Chọn nghề nghiệp bằng lá số Tử vi

  • Quan niệm nghề nghiệp trong khoa Tử Vi.
  • Cách nghề nghiệp qua các cung
  • Cách nghề nghiệp qua các sao.

Những nghề liên quan đến văn học

– Nghề dạy học

– Nghề chính trị

– Nghề hành luật

– Nghề viết văn

Những nghề liên quan đến kinh thương

– Nghề thương mại

– Nghành kỹ nghệ

Những nghề liên quan đến khoa học ứng dụng

– Nghề điện

– Nghề dược

– Nghề kiến trúc

– Nghề nha

– Nghề y

Những nghề liên quan đến nghệ thuật

– Nghề nhạc

– Nghề nữ công

– Nghề kịch

– Nghề họa

– Nghề nấu ăn

– Nghề ca, vũ.

A. QUAN NIỆM NGHỀ NGHIỆP TRONG KHOA TỬ VI

Vào lúc khoa Tử Vi ra đời, tại Trung Hoa, sinh kế được quy tụ vỏn vẹn trong 4 nghề chính yếu : sĩ , nông, công, thương. Xã hội Trung hoa ngày trước là xã hội tĩnh, nghề nghiệp vì thế cũng ít, thường không thay đổi và không mấy bành trướng. Trong số 4 nghề này, chỉ riêng nghề sĩ được coi trọng, được xếp hàng đầu, có thể được xem là một nghề thực sự vì có học, có trường, có thi cử và nhất là có địa vị cao quý trong xã hội.

Chế độ quân chủ phong kiến với hệ thống quan lại đông đảo đã biến công quyền thành nơi tiến thân cho kẻ sĩ, Những ai có khoa bảng hầu như có cơ hội được trọng dụng vào việc nước, việc làng.

Coi trọng nghề làm quan, xã hội coi nhẹ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và các tạp nghệ khác. Lãnh vực tư trở thành thứ yếu , thậm chí bị cho là thấp kém. Quan niệm này đã đựơc phản ảnh toàn diện trong khoa Tử Vi. Chữ “công danh”, chữ “hoạn lộ” được hiểu theo nghĩa công quyền thay vì theo nghĩa nghề nghiệp sự nghiệp nói chung. Quí cách được hiểu theo nghĩa quan cách, tức là cách làm quan. Ngoài ra, khoa Tử Vi nói rất nhiều đến cách làm quan trong khi chỉ đề cập sơ sài đến các nghề tư, kinh doanh, thương mại, kỹ nghệ.

Ngày nay, sự phát triển của kinh tế, sự phồn tạp của đời sống cũng như sự mở rộng khoa học, nghệ thuật đã làm nảy sinh vô số nghề mới. Đã vậy, trong một nghề, còn có thêm nhiều chi nhánh bành trướng và nhất là đắc lợi hơn lãnh vực công quyền. Từ đó, nói có sức hấp dẫn mới mẻ, đủ để làm thay đổi một quan niệm lỗi thời về quan lộc.

Thành thử, dần dần, tập tục tư tưởng đã biến cái chữ quan lộc, bấy giờ được hiểu như nghề nghiệp, sinh kế nói chung, không còn bị giới hạn trong phạm vi công quyền nữa. Song, mặc dù ý nghĩa được mở rộng, nội dung các sao chưa được thích nghi kịp thời. Người ta còn luận về nghề nghiệp như một phụ nghệ của quan cách. Cái gì bất lợi cho quan cách thì được xem như tốt đẹp hơn cho nông, công, thương. Và những ai có số bất lợi trong lĩnh vực công, nếu xoay qua buôn bán kinh doanh thì lại đựơc vừa ý hơn. Quan niệm phong kiến đó chưa được rũ bỏ một cách toàn vẹn. Tập tục giải đoán Tử Vi vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào quan cách.

Những ai có dịp đọc các sách Tử Vi cũ và cả những sách hiệu đại đều nhận thấy sự kiện nghịch lý đó. Nghề nghiệp chưa được các sách canh tân và thích ứng theo kịp trào lưu tiến hóa. Để thử góp phần cập nhật kiến thức. Tử -vi theo trào đại mới, chương này sẽ cởi bỏ quan niệm phong kiến cũ kỹ, chấp nhận một đường lối tư tưởng mới mẻ hơn để khảo sát cách nghề nghiệp. Chữ nghề nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Bao gồm hết thảy các lĩnh vực sinh kế, ngoài địa hạt nhà nước. Khi thử làm một cuộc canh tân về nội dung như vậy, soạn gì cũng tự thấy có phần liều lĩnh, đồng thời cũng tự biết có hễ sai lầm. Tuy nhiên, chúng ta không nên ngại sai lầm mà bất động ở trước một nhu cầu hợp lý. Cho nên, chương bàn về cách nghề nghiệp ở đây có tác dụng đặt nền tảng cho vấn đề, ngõ hầu giúp người khác có một căn bản tiên khởi để tham chiếu và khai triển. Khuyết điểm khả hữu của chương này có thể là sự liệt kê các nghề không đầy đủ và sự phân biệt nghề không rõ ràng.

B – CÁCH NGHỀ NGHIỆP QUA CÁC CUNG

Vì lối hiểu truyền thống của khoa Tử – vi về cung Quan lộc có phần chật hẹp, cho nên khi tìm kiếm nghề nghiệp, chúng ta không nên đóng khung trong cung Quan mà phải tra xét thêm những cung cường khác nữa, đặc biệt là cung Mệnh, Thân, Tài, Phúc, Nô. Các cung này phải được phối nghĩa để tìm cách trội yếu nhất giúp chỉ danh nghề nghiệp.

1. – CUNG QUAN

Vì hiểu Quan là nghề nghiệp nói chung cho nên trong cung Quan, cần lưu ý các sao chỉ năng khiếu chuyên môn, những ý nghĩa nghề nghiệp của các sao, xem đó là yếu tố chính để tìm hiểu nghề nghiệp.

Sự phân loại cổ điển của cổ nhân thành nghề văn và nghề võ thành lãnh vực công quyền và lĩnh vực tư nhân đến nay không còn chính xác. Vì thế, lối phân biệt này không còn hưu hiệu để định nghề một cách chắc chắn được. Chung qui, qua cung Quan, người xem số chỉ có thể khẳng định khả năng chuyên môn và triển vọng của một môi trường thích hợp với khả năng đó mà thôi. Không thể và không nên dứt khoát về nghề cụ thể nào, trừ phi có đủ yếu tố rõ ràng, lấy từ các cung khác.

2 – CUNG MỆNH, CUNG THÂN :

Tại hai cung này cũng có những sao chỉ năng khiếu, sự thích hợp vơi một công việc nào đó, khả dĩ giúp kết luận nghề của đương số. Còn dựa vào cách cục củaMệnh. Thân để tìm nghề cũng có nhiều may rủi, dễ sai lầm. Lý do là vì chỉ có một số ít cách, cục trong khi có rất nhiều nghề trong một cách hay cục. Trong trường hợp có cách, cục tương phản, kết luận sẽ càng khó khăn.

Một yếu tố hữu ích cần sử dụng là vị trí của Thân. Những trường hợp Thân cư Quan, cư Tài, cư Di hay cư Thê,Phu đều có tính cách đặc biệt vì, một khi Thân đóng ngoài cung Mệnh, thì thừờng hay có chuyển đổi nghề nghiệp vào hậu vận. Tùy theo Thân đóng ở cung nào, cung đó sẽ giúp tìm hiểu thêm loại nghề lúc con người lập thân. Như vậy, về phương diện nghề nghiệp, cung Thân rõ ràng hơn cung Mệnh. Thật vậy, từ 30 tuổi trở đi, con người mới có được sự nghiệp an bài

hay tương đối lâu dài. Nếu cung Thân tốt, điều đó hàm ý rằng đương số có đủ nghề mưu sinh và từ đó, ít có sự thay đổi công việc. Ngược lại, nếu Thân xấu, thì dễ có sự chuyển nghề mà vẫn gặp khó khăn chật vật.

Trong trường hợp một người có nhiều nghề, điều đó thường được phản ảnh qua nhiều năng khiếu , biểu lộ trong cung Mệnh, Thân hay Quan. Một lần nữa, xem nghề nghiệp mà chỉ nói lên năng khiếu thì ít sai hơn là xác định rõ rệt cái nghề.

3 – CUNG TÀI :

Vì chỉ tiền bạc kiếm được từ nghề nghiệp, cung Tài góp phần giải đoán nghề nghiệp, đặc biệt là các nghề kinh doanh buôn bán, thông thường có nhiều tiền hơn công nghệ.

Nhờ những sao chỉ cách hái ra tiền, hoặc những sao nói lên cá tính con ngừơi trước đồng tiền, ta sẽ có thêm yếu tố để định nghề. Trong trường hợp Thân cư Tài, nghề nghiệp càng rõ rệt hơn : đương số làm những nghề liên quan đến kinh tế , tài chánh, vànếu tại cung Tài mà có thêm nhiều sao tài trấn đóng thì càng dễ xác nhận điều đó.

4.CUNG PHÚC :

Cung này không trực tiếp xác định nghề. Đây là những yếu tố phụ thuộc và chỉ có tính cách xác định khi nào đồng qui với những yếu tố tương tự ở cung Quan, Mệnh, Thân hay Tài. Duy năng khiếu di truyền ở Phúc là điều phải lưu ý.

5 – CUNG NÔ, CUNG DI

CungNô, chỉ người dứới quyền, cho nên sẽ góp thêm chi tiết để định danh nghề nghiệp. Thông thường, những hạng người tốt Nô hay làm những nghề có ảnh hưởng lớn đến xã hội, như thầy giáo, giáo sư, bác sĩ, chủ nhân xí nghiệp. Lúc nào cũng có dứơi trướng nhiều người thuộc quyền. Tư cách cụ thể sẽ được luận đóan qua năng khiếu.

Cung Di cũng là hình ảnh của cung Nô và trợ lực cung Nô trong việc định nghề.

Việc khảo sát những cung kể trên thường phát giác ra một loạt nhiều nghề. Việc lựa chọn bấy giờ phải dựa trên yếu tố nào nổi bật nhất. Có nhiều trường hợp khó xác định. Gặp những trường hợp này chỉ nên nói về năgn khiếu và ước đoán một nghề nghiệp thích hợp với năng khiếu đó mà thôi.

C. CÁC NGHỀ NGHIỆP QUA CÁC SAO

Vấn đề xác định một nghề cụ thể bao giờ cũng khó khăn, dễ sai lầm. Tính cách tạp bác của nghề nghiệp trong xã hội hiện thời không đựơc khoa Tử Vi phản ảnh đầy đủ. Vì vậy, chỉ có vài nghề cụ thể được quyết đoán, kỳ dư, chỉ có thể định loại nghề mà thôi.

Để cho dễ tra cứu , chúng ta sẽ xếp loại các nghề, và trong mỗi loại, thử tìm cách vị trí hóa các sao hệ thuộc. Đại cương cóthể chia ra làm :

  • Những nghề liên quan đến văn học.
  • Những nghề liên quan đến kinh doanh
  • Những nghề liên quan đến khoa học ứng dụng.
  • Những nghề liên quan đến nghệ thuật
  • Những nghề linh tinh khác.

I. Những nghề liên quan đến văn học :

Mặc dù xếp dứới tiêu đề văn học, song chỉ thấy được rõ ràng nghề dạy học, nghề hành luật, nghê chính trị, nghề viết văn là có đủ sao chỉ năng khiếu liên hệ. Còn những nghề phụ khác, tùy theo sự liên hệ xa gần với bốn nghề chính trên sẽ có những sao tương ứng.

a) Nghề dạy học :

Chúng ta sẽ không ấn định cấp bậc và trình độ giáo dục ở đây vì nó thuộc sự cao thấp của khoa bảng. Chúng ta chỉ liệt kê các sao chỉ năng khiếu giáo khoa. Về mặt năng khiếu, ngành giáo dục phải nói giỏi và học giỏi.

  • Nói giỏi thì có những sao hùng biện mô tả. Điều này đã được đề cập ở chương nói về cách hùng biện, đây chỉ nhắc lại sơ lược.

Lưu hà, chỉ sự lưu loát của ngôn ngữ, sự phong phú của tư tưởng, sự ngăn nắp của bố cục, sự linh mẫn của lý luận, sự hấp dẫn của nội dung….

Thái Tuế, chỉ sự nói nhiều, khả năng biện luận, khuynh hướng đấu lý.

Tấu Thư , chỉ sự khôn khéo trong ngôn ngữ, sự thanh nhã của ý tưởng, sự mềm mỏng của cách trình bày, và hiệu lực thuyết phục sâu sắc.

Hóa Khoa, chỉ sự thông thái của tư tưởng sự cáo kiến của học thức, sự khúc chiết của cách trình bày.

Thiên Hình, chỉ khả năng phân tích sắc bén, sự sáng sủa của tư tưởng và của lối nói, lối viết, sự tinh vi của lý luận.

  • Học giỏi thì đã có các sao ăn học phô diễn và được trình bày trong cách khoa bảng,ở đây xin nhắc lại những sao

cốt yếu :

Ứng dụng cho nghề chính trị . Ngoài ra, có thể có thêm một số sao khác như

– Phục binh :

Sao này chỉ thủ đoạn, chỉ sự rắp tâm mưu hại kẻ khác, đồng thời cũng có nghĩa là mình bị mưu hại bằng thủ đoạn. Có Thái Tuế đi kèm thì

càng rõ nghĩa. Đương số phải chịu nhiều búa rìu của dư luận, đồng thời cũng sử dụng dư luận để đập lại đối thủ hay địch thủ. Những năng khiếu đi liền với Phục Bình tất phải có, từ sự lừa lọc, gài bẫy, cho đến việc đánh úp, bôi nhọ, thanh lọc, kiềm chế, bế tỏa, ngăn trở, chèn ép, chụp mũ…..

– Thiên Không

Gần như đồng nghĩa với Phục Bính, chỉ tư chất lưu manh của hành động, mánh khóe, xảo thuật ứng dụng để loại trừ đối thủ hoặc để tự vệ, chống đỡ phản đòn của ho cũng bằng các thủ đoạn đó.

– Bạch Hổ

– Thiên Khốc, Thiên Hư Đắc Địa

Bạch Hổ chỉ xu hướng hoạt động chính trị của phái nam, đồng thời chỉ sự hùng biện, sự khích động, sự lôi cuốn thiên hạ bằng ngôn ngữ có tâm huyết, có khí phách, có tác dụng xách động, có dụng tâm cổ võ tranh đấu.

Thiên Khốc và Thiên Hư cũng đồng nghĩa.

Nếu được đắc địa thì xu hướng chính trị có triển vọng, ngôn ngữ đắc dụng và có hiệu quả.Nếu hãm địa thì có khuynh hướng sai ngoa, xuyên tạc nhiều hơn.Tuy không hẳn có nghĩa thất bại.

Lẽ dĩ nhiên, các ý nghĩa của năng khiếu chính trị trên chỉ liên quan nhiều đến phái nam.

Ngoài ra, nghề chính trị còn đòi hỏi cung Nô tết hoặc là có nhiều sao chỉ nhân lực trợ giúp. Có như thế, chính trị gia mới có tập đoàn ủng hộ và dân chúng hậu thuẫn, giúp cho sự tiến đạt và sự thành công dễ dàng và bền vững.

d) Nghề viết văn :

Nghề này tập họp các văn sĩ, thi sĩ, tác giả viết tuồng, ký giả , phóng sự, các nhà khảo cứu đủ mọi nghành và mọi giới.

Đặc tính chung của họ là giấy, bút, mực, hội với khả năng học vấn. Còn nghành chuyên môn thì tùy theo các sao khác nói trong cách khoa bảng, mục các ngành học.

– Thiên tướng :

Về vật dụng, Thiên Tướng chỉ cây bút. Về tính tình. Thiên Tướng chỉ con người thấy sự bất bình, không nhịn được, phải cải người sửa đời. Tuy nhiên, riêng sao Thiên Tướng chư a đủ diễn tả tư cách viết văn, phải có thêm sao khác.

– Tấu thư ; Đà la, An Quang, Thiên Quý

Tấu Thư là giấy, Đà La là mực, An Quang, Thiên Quý là bàivở. Ngoài ra, Tấu thư còn chỉ sự sắc bén, sự tế nhị của lời văn, ngòi bút. An Quang, Thiên Quý chỉ sự tha thiết, hay là cái hoài bão cải tạo con người cho tốt thêm.

Tả phù, Hữu bật, Hóa khoa :

Bộ sao này chỉ ngành và nghề dịch thuật Vì Khoa chỉ học vấn. Đi với Tả, Hữu có nghĩa là biết nhiều ngoại ngữ. Tả Hữu có thể đi với Văn Xương, Văn Khúc hay Văn tinh…. Để chỉ nghề dịch, người thông ngôn.

Nghề viết văn vẫn có thể có năng khiếu của thầy học, của luật sư, và vẫn có thể được bổ túc bằng các sao mô tả đặc tính của hai loại nghề này. Cho dù hành nghề nào đi nữa mà có nhiều sao kể trên thì cũng có sáng tác, xuất bản. Có thể nói rộng ra để chỉ những nghề in sách. Nếu văn sĩ có thêm các sao tình dục thì có thể viết các dâm thư, kiểu như Hồ Xuân Hương.

2 – Những nghề liên quan đến kinh thương :

Ngành kinh doanh, thương mại có rất nhiều nghề phụ thuộc, nhất là vào thời đại hiện giờ. Khoa Tử Vi chưatheo kịp đà phát triển của lĩnh vực kinh thương trong xã hội mới cho nên chỉ tập hợp được vài bộ sao tương đối ít oi, nói lên các nghề tổng quát hơn là cái nghiệp cụ thể.

a) Nghề thương mại

Thương mại qui tụ rất nhiều nghề từ buôn lẻ đến cho vay tín dụng, ngân hàng, xuất nhập cảng, vận tải, môi giới….. Duy, hầu hết đều có đặc tính chung là: liên quan đến tiền bạc, sự tham lam, óc tính toán và tài tháo vát.

Tính tham do các sao dưới đây mô tả :

Tham lang :

Sao này điển hình cho con buôn, có óc kinh doanh và hám lợi. Vì thế, đi với bất cứ tài tinh nào đều có ý nghĩa kiếm lời bằng hình thái này nọ, đặc biệt là trục lợi trong thương trường.

Ơ thế đắc địa, tính hám lợi thường gặp may mắn, dễ làm giàu, nhất là từ 30 tuổi về sau. Người có Tham đắc địa dám mưu sự lớn lao, đầu tư vào các lĩnh vực rộng lớn của nền kinh tế, có óc mạo hiểm táo bạo.

Ở thế hãm địa như Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi lòng tham càng dữ dội hơn khả dĩ đến chỗ thất tín, bất nhân. Đây là thế của gian thương đầu cơ, tích trữ, lũng đoạn kinh tế, không quan tâm đến đạo đức xã hội, dù là tối thiểu.

Phá quân hãm địa :

Ơ Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Phá Quân vô cùng hám lợi. Riêng ở Tỵ, Hợi, đivới Vũ Khúc sự tham tiền này đi đến chỗ bất lương. Duy, cách này thường gặp phá sản, khánh tận hoặc buôn bán khổ nhọc ở phương xa.

Oc tính toán và mưu trí trong thương trường thường được mô tả bởi những bộ sao dứoi đây :

– Thiên Cơ, Cự Môn ở Mão Dậu

– Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung.

– Thiền Đồng, Thiên Lương đồng cung.

– Thiên Đồng, Thái âm đồng cung ở Ngọ.

Những bộ sao này không nặng tính tham mà thiên về mưu trí, sự tinh xảo trong nghề buôn, sự hiểu biết rõ ràng thương trường, tài buôn bán. Hầu hết là phúc tinh cho nên việc thương mại tương đối lương thiện.

Ngòai ra, tất cả các sao nói lên trí thông minh đều ứng dụng được trong doanh thương.

– Thiên Mã, Lộc Tồn :

Sao Mã chỉ sự tháo vát, lanh lợi, đa tài, tinh thần xông pha, lăn lóc, là các đức tính cần thiết cho nghiệp vụ thương mại. Vì thế Mã đi với bất cứ tài tinh nào cũng đều đắc lợi và có ý nghĩa buôn bán, nhất là khi tọa thủ ở cung Tài hay cung Thân, Mệnh, Quan.

Riêng ở Hợi thì phải cực nhọc mới kiếm lời được. Vì ơì ại đó Thiên Mã hãm địa, việc buôn bán không gặp thời vận tốt. Tốt nhất là ở Dần, Tị, rồi mới đến Thân.

Vì Mã chỉ sự lưu động cho nên các nghề buôn bán của sao này liên quan đến ngành vận tải, đường bộ hay đường hàng không, hoặc là các ngành môi giới, giao thiệp lưu động, nghiên cứu thị trường ở nhiều nơi.

Lộc Tồn đồng nghĩa với Thiên Mã, nhưng không có ý nghĩa lưu động. Cả hai kết hợp rất đặc sắc cho việc buôn.

Tinh thần cạnh tranh cũng là đức tính thương mại. Những sao liên hệ gồm có :

Quan Phù, Quan Phủ

– Phục binh, Hóa kỵ

Hai sao Quan Phù, Quan Phủ chỉ óc thi đua, sự cạnh tranh thường đi đôi với mưu mẹo, lừa gạt, nói dối. Hóa Kỵ, vừa có nghĩa đốkỵ, sợ người khác hơn mình, vừa có nghĩa miệng lưỡi, môi miếng, Phục Binh là sao thủ đoạn. Cả bốn sao đều đắc dụng cho doanh thương, duy phương cách cạnh tranh không mấy gì ngay thẳng, thường đưa đến sự mưu hại lẫn nhau một cách ngấm ngầm.

Vấn đề tiền bạc có lẽ là đặc điểm chính yếu của người buôn bán vì đầu óc họ thường bị ám ảnh bởi đồng tiền, cái gì cũng tính ra tiền . Do đó, số doanh thương nhất định phải có nhiều sao tài hội tụ liệt kê trong cách giàu, có thể được tham chiếu để tìm hiểu thêm đặc tính của các nghề kin h thương.

b) Nghề kỹ nghệ :

Trong quyển Tử Vi Đẩu Số. Thái Thứ Lang có chú giải rằng kỹ nghệ là “nghề nghiệp khó nhọc”. Có lẽ đầy là một quan niệm xưa, lúc kỹ nghệ cơ khí chưa xuất hiện, lúc con người còn ở giai đoạn bản khai về chế tạo đồ dùng cho nhu cầu hàng

ngày. Quan niệm đó ngày nay không còn thích dụng . Vì vậy các sao của kỹ nghệ không thể là những bộ sao cũ kỹ được kể ra trong sách kể trên. Hiện thời sự phát triển củakỹ nghệ nảy sinh ra rất nhiều nghề hệ thuộc, đòi hỏi trình độ học vấn rất cao, và hơn nữa rất đắc lợi. Thành thử, những saokỹ nghệ trong sách của Thái Thứ Lang, đa số thuộc hãm tinh, xét ra không mấy thích hợp. Vả chăng, chúng ta phải phân biệt kỹ nghệ gia với công nhân lao động làm việc về máy móc. Nếu nói kỹ nghệ là nghề nghiệp khó nhọc thì định nghĩa này chỉ đúng cho hạng lao động. Thợ máy, thợ tiện, thợ dệt, thợ nhuộm, thợ rèn…. Chớ không áp dụng cho các chủ nhân,

các nhà tư bản kỹ nghệ, các chuyên viên hay kỹ sư, kỹ thuật gia hoạt động trong ngành kỹ nghệ.

Đối với hạng công nhân kỹ nghệ, các sao dưới đây có thể thích dụng :

– Phá Quân, ở Dần Thân, Thìn Tuất.

Thất Sát, Kình Dương.

Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung.

Liêm Trinh, Tham lang đồng cung.

Thiên cơ, Thiên Hình, Kiếp Sát.

Kình Dương, Hỏa hay Linh Tinh

Liêm Trinh, Phá Quân đồng cung.

Những bộ sao trên không đắc địa, gần như có nghĩa bần hàn, cực khổ có thể thích hợp cho hạng công nhân.

Đối với hạng chủ nhân, chuyên viên, kỹ sư, tư bản hoạt động trong ngành kỹ nghệ, họ phải có sao học vấn cao, hoặc làcó những bộ sao trên nhưng sáng sủa nhờ Tuần, Triệt hay ở vị trí đắc địa, đồng thời cũng phải có những bộ sao của nghề thương mại. Trong nghành kỹ nghệ nói riêng có hai sao dưới đây đáng lưu ý :

– Thiên Cơ

Sao này chỉ tất cả loại máy móc lớn nhỏ của nghành kỹ nghệ từ máy xe, máy kéo, máy tiện cho đến máy tàu, máy luyện thép, máy khoan v.v….. Mặt khác, Thiên Cơ

còn chỉ sự tinh xảo trong nghề nghiệp. Hai ý nghĩa này ghép lại chỉ người chuyên môn về máy móc . Đắc địa thì là kỹ sư, hàm thì là thợ máy.

Thiên Cơ có thể đi chung với một số sao khác để xác định loại máy, loại nghề liên quan đến máy đó. Ví dụ :

– Thiên Cơ,Hỏa Tinh hay Linh Tinh để chỉ máy hay lò luyện sắt thép, nấu quặng hoặc máy tạo hơi nóng, máy sấy, máy phát điện.

– Thiên Cơ Thái Âm hay Thiếu Dương, Thiếu Âm, để chỉ máy điện và tất cả máy móc gì sử dụng đến điện, cũng có thể là máy điện tử.

– Thiên Cơ, Thiên Mã chỉ máy xe các loại (xe hơi, xe hỏa, xe điện) hay máy phi cơ, máy tàu thủy (coi như các phương tiện di chuyển biểu tượng bằng sao Thiên Mã),

– Thiên Hình

Sao này chỉ dao, kéo hay cơ khí, nói chung các sản phẩm kỹ nghệ bằng kim khí. Với hai sao này, một sao chỉ máy móc, một sao chỉ sản phẩm kim khí chế tạo được, khoa Tử Vi rất nghèo nàn khi mô tả kỹ nghệ và các nghề liên quan đến kỹ nghệ.Ngành này tương đối mới mẻ cho nên khoa Tử Vi chưa có đào sâu. Hơn nữa, khoa này học về sự thịnh suy của vận số con người nhiều hơn là khảo cứu nghề nghiệp và càng không phải là khoa kỹ nghệ.

3 – Những nghề liên quan đến khoa học ứng dụng:

Trong lĩnh vực này, khoa Tử Vi cũng nghèo nàn. Chỉ thấy được các nghề điện, nha, dược, y, và nghề kiến trúc.

a) Nghề điện :

Có các sao tượg trưng dưới đây :

– Thái dương, Thái âm.

– Thiếu dương, Thiếu âm.

– Hỏa tinh, Linh tinh.

Cả ba bộ này chỉ các thể khí đối lập và tạo nghiệp, có thể hình dung được điện học hay điện tử, cùng với những ứng dụng phức tạp của hai nghành này.

b) Nghề nha:

– Tuế phá chỉ bộ răng.

– Thiên hình hay Kiếp sát chỉ sự mổ xẻ, chắp vá.

– Tấu thư hay Hồng Loan chỉ khéo tay, tinh xảo.

  1. Nghề dược : Có hai sao cụ thể là : Thiên Y chỉ thuốc men.

Hóa Kỵ chỉ các dung dịch, hóa chất bào chế.

  1. Nghề y:
  1. Nghề này có khá nhiều sao biểu diễn. Vì y sĩ là người cứu độ thiên hạ và là người có hiểu biết về y khoa cho nên phải có những sao chỉ hai loại năng khiếu đó.

Về mặt cứu độ, có những sao cứu đọcó y tính phải kể là:

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương.

Bốn sao này gồm bộ phúc tinh, chỉ sự làm việc nghĩa. Người có cách này có thiên tính, hay giúp đỡ kẻ khác, có khuynh hướng xã hội rất cao, hay làm phúc, tạo phúc và có cơ hội tích phúc. Tuy không trực tiếp có nghĩa y học, song đây là bộ sao cứu độ cần thiết cho y sĩ.

– Thiên Tướng :

Sao này biểu tượng cho vị cứu tinh của nhân loại, mang lại công bình, hạnh phúc cho nhân thế trong tinh thần cứu nhân độ thế. Thiên Tướng là vị tướng của Trời, dĩ nhiên được dung để cứu rỗi hơn là để sát phạt.

– Thiên Y :

Tuy là phụ tinh nhưng Thiên Y trực tiếp nói về y học. Người có Thiên Y có tính sạch sẽ, vệ sinh và có năng khiếu về thuốc men. Ngoài ra, Thiên Y cũng có nghĩa cứu giải bệnh tật và có nghĩa hay dùng thuốc trước khi có bệnh.

Những sao trên cần đóng ở cung Mệnh, Thân hay Quan mới có điều kiện cứu độ của một y sĩ, mới có triển vọng hành nghề nhiều nhất. Nếu đóng ở Tài thì y sĩ này có xu hướng lý tài, trục lợi và bóc lột bệnh nhân, mặc dù ở cung đó, tài lộc sẽ được dồi dào hơn ở vị trí khác.

Ngoài ra, còn có những sao trợ y, nghĩa là làm tăng thêm triển vọng cho nghề thuốc, đồng thời cũng tạo thêm phúc đức thực tại cho đương số. – An Quang, Thiên Quý.

– Thiên Quang, Thiên Phúc.

– Tả Phù, Hữu Bật

An Quang, Thiên Quý chỉ cái phúc do Trời ban cho. Đi với bộ sao bác sĩ, ông này sẽ được nổi tiếng nhờ mát tay, nhờ hên may, được linh thiêng phù trợ, soi sáng dẫn dắt trong vấn đề trị liệu. Đồng thời , Quang Quý cũng nói lên tinh thần vị tha cao độ của một y sĩ có lương tâm chức nghiệp. Yêu nghề, tin nơi nghề và được nghề đãi ngộ xứng đáng, lấy việc cứu người làm lẽ sống cao cả, ít quan tâm đến khía cạnh tiền bạc của nghề thuốc.

Thiên Quang, Thiên Phúc cũng là phúc tinh, nói lên xu hướng xã hội của y sĩ. Với bốn sao này, y sĩ hay bố thí, cứu người không lấy tiền làm việc với sự tận tâm và vị tha nhờ đó mà được nổi danh bác ái kiểu Albert Sweitzer.

Còn Tả Phù, Hữu Bật trong cách y sĩ cũng có nhiều ý nghĩa cứu Sộ làm phúc, nhưng thông thường, hai sao này nặng ý nghĩa đắc thời, có sự nghiệp y dược lớn, cụ thể như có bệnh viện riêng, được bác sỹ, y tá trợ giúp. Với Tả, Hữu, y sĩ khônglàm việc một cách đơn độc mà hành nghề chung với một tập đoàn y sĩ khác, hùn hạp chung vốn, chung sức trong một bệnh viện.

– Thiên Giải, Địa Giải , Giải Thần

Đứng về mặt y học, ba sao này có hiệu lực hóa giải bệnh tật. Người có bệnh gặp các sao này thì mau hết bệnh vì gặp thầy, gặp thuốc. Còn y sĩ mà có ba sao này thì cứu mạng và chữa trị rất công hiệu cho bệnh nhân.

Về năng khiếu chuyên khoa, có thể nói rằng các nghành chuyên khoa trong y học không đựoc phát triển trong xã hội Trung Hoa thời xưa. Chỉ thấy thời đó có hai phương pháp trị liệu là bằng thuốc men và bằng giải phẫu. Không thấy nói đến các chuyên khoa trên các bộ phận chính của cơ thể hoặc trên y học kỹ thuật.

Dựa trên ý nghĩa cơ thể và kỹ thuật củamột số sao ta có thể suy diễn tạm thời hai loại chuyên khoa : một về kỹ thuật và một về cơ thể.

Những chuyên khoa có tính cách kỹ thuật do những sao dứoi đây biểu diễn :

– Thái Âm,. Thái Dương.

Đây là hai loại khí đối lập của trời đất, có thể tượng trưng cho điện khí. Ứng dụng vào y học kỹ thuật, y sĩ nào có thêm sao Âm Dương chiếu có thể là bác sỹ chiếu điện hay chụp hình hoặc là bác sỹ sử dụng các phương pháp chữa trị bằng điện, bằng quang tuyến hay tia phóng xạ.

– Thiên Âm. Thiếu dương

Hai sao này có ý nghĩa tương tự như trên, duy vì nó chỉ yếu tố âm dương cực nhỏ cho nên có thể đồng hóa với điện tử ứng dụng thực nghiệm đang phát triển cao độ hiện nay.

– Văn Xương, Văn Khúc, Văn Tinh.

– Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa

– Thái Dương, Thái Âm sáng sủa.

– Cự Môn, Thiên Cơ ở Mão, Dậu

– Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn, Tuất.

– Long Trì, Phượng Các, Bác sỹ.

Không cần gì hội đủ hết các sao kể trên mới làm giáo dục, có khi chỉ cần một hay hai sao. Càng có nhiều sao hội họp thì trình độ giảng huấn càng cao và chức tước càng lớn./ Ít sao thì là thầy giáo, nhiều sao là giáo sư, diễn giả.

Hai năng khiếu nói giỏi và học giỏi đó là căn bản cho nhiều nghề khác nữa, ví dụ như chính trị gia, thương thuyết gia, sĩ quan tâm lý chiến cán bộ dân vận, ứng cử viên tranh cử, cổ động viên. Nếu ít học thì sẽ hành các nghề thấp hơn quảng cáo, môi giới, hòa giải. Điều này cho thấy, xét về mặt năng khiếu thì nghề nghiệp liên quan với nhau rất nhiều. Ví dụ như nghề quảng cáo thương mại, tuy thuộc về doanh thương song cần có khả năng hùng biện của một giáo sư. Khiếu ăn nói đó cũng cần cho chính trị gia hay cán bộ chiến tranh chính trị. Thành thử tiêu đề liên quan đến văn học, xét về mặt năng khiếu phải được hiểu theo một nghĩa rất linh động, có thể làm căn bản tổng quát hóa cho nhiều chức nghiệp khác.

Điều cần lưu ýlà xem số giáo sư, nên để tâm nhiều hơn vào cung Nô, vì đa số thầy giáo có cung Nô rất tốt.

c) Nghề hành luật :

Dưới danh hiệu này có các nghề luật sư, dân biểu, cảnh sát, thám tử văn phòng cố vấn pháp luật giáo sư luật học, sinh viên nghành luật. Vì luật lệ và chính trị có liên hệ với nhau nên nghề này cũng chỉ luôn các chính trị gia mà không đến nỗi sai lầm.

Trong nghề luật, có hai năng khiếu đáng lưu ý là sự tranh biện và tinh thần pháp luật, chưa kể khả năng học vấn phải có. Sự tranh cãi thật ra không khác gì sự hùng biện, cho nên có thể tham chiếu các sao hùng biện để dẫn chứng. Còn vấn đề pháp luật(hay chính trị) có liên quan đến những sao dưới đây:

– Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phổ

Thái Tuế bao giờ cũng tham chiếu với Quan Phủ.Còn Quan Phủ thì lại đồng nghĩa với Quan Phù. Ba sao này điển hình cho ngành luật, mọi chuyện có liên quan đến pháp luật, từ kiện tụng, tù ngục, điều tra , thưa gửi khiếu naị, bắt bớ đến truy tố xét xử, bênh vực, tranh chấp…….

– Thiên Hình

Sao này cũng chỉ nghề luật, đặc biệt là tư cách bị cáo, bị án , bị điều tra, bị gọi làm nhân chứng….. Trong trường hộp hành nghề luật thì ý nghĩa tích cực ưu thắng : đương sự chuyên xử , truy bắt, bỏ tù, kết án kẻ khác.

Trong một lá số đặc biệt tốt, Thiên Hình có nghĩa làm luật, cầm luật.

– Cự Môn, Hóa Kỵ

Hai sao này là ám tinh vừa chỉ sự đa nghi, sự cạnh tranh trước pháp luật, vừa chỉ các vấn đề liên hệ đến luật pháp, từ việc nghiên cứu luật pháp, học luật pháp cho đến dạy luật pháp và hành xử luật pháp. Tư cách nạn nhân của một vụ tranh chấp trước pháp luật cũng được bao hàm nhất là khi gặp vị trí hãm địa vàkhông hành nghề luật chính tông. Ngoài ra, Hóa Kỵ còn là cái lưỡi để cãi lý, để bài xích, chê bai, vu khống, nói xấu, đầu mối của nhiều vụ thưa kiện. d) Nghề chính trị :

Như đã trình bày, năng khiếu của chính trị gia bao hàm năng khiếu của giáo sư, củaluật sư cho nên các sao mô tả hai nghề này đều.

– Thiên Hình, Kiếp Sát

Chỉ dụng cụ mổ xẻ, cho nên nghành ứng dụng là giải phẩu, chắp vá, thay thế bộ phận thiên nhiên bằng bộ phận nhân tạo có tính cách kỹ thuật (tim nhân tạo, thận nhân tạo).

Những chuyên khoa trong cơ thể bao gồm các ngành đặc biệt dưối đây :

– Thái Âm, Thái Dương.

Âm, Dương là hai mắt và là bộ thần kinh đồng thời cũng là tâm linh con người. Vì vậy bác sĩ nào có hai sao này có thể là bác sĩ nhãn khoa, bác sĩ thần kinh hay tâm linh (psychiatre, psychânlyse.).

– Tuế Phá

Vì chỉ bộ răng cho nên sẽ là bác sĩ nhãn khoa.

– Phá toái, Long trì, Phượng Các.

Phá Toái chỉ cuống họng (larynx), Long Trì là lỗ mũi, Phượng Các là lỗ tai. Ba sao này ứng với nghành tai mũi họng (ORL). – Mộc dục, Thai hay Đào Hoa, Hồng Loan.

Mộc Dục chỉ tử cung, Thai chỉ bào thai, âm hộ. Đào, Hồng chỉ phụ nữ. Đây là bác sĩ trị bệnh đàn bà(gynécologue), bệnh về thai sản( obstetrique) và các bệnh phụ thuộc như hiếm muộn (sterilité). Liãnh cảm(frigidité) hoặc các bệnh liên quan đến hạnh phúc lứa đôi.

– Hỷ Thần

Chuyên về trĩ (hémoroide) vì Hỷ Thần là hậu môn.

– Thiên riêu, Kình Dương.

Sao này liên hệ đến bộ phận sinh dục, nhất là của phái nam. Đi với bộ sao y sĩ, nghành chuyên khoa sẽ là bệnh phong tình( maladiesvenes???) hay các bệnh phụ tùy của cơ quan sinh dục như liệt dương, teo chim !

– Bạch Hổ, Địa Kiếp

Hai sao này tương ứng với bệnh ung thư.

– Thiên hình , Kiếp Sát

Đây là bác sĩ châm cứu

– Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái

Ba sao này có nghĩa chưng diện, làm dáng. Nghành chuyên khoa sẽ là thẩm mỹ , chuyên sửa sắc đẹp.

– Thiên Mã hay Kình Dương, Đà La.

Các sao này chỉ chân tay liên quan đến ngành chỉnh hình, làm chân tay giả, huấn luyện cử động hoặc là bệnh tê dại

Ngoài ra nếu không có chuyên khoa nào mà có sao Hóa Kỵ. (chỉ hóa chất, thuốc men) thì đây là bác sĩ trị liệu tổng quát

Nếu các sao trên không hẳn nói lên nghành chuyên khoa của y sĩ thì có thể liên quan đến luận án của họ. Sau cùng, nếu có thêm Thái Tuế, Lưu Hà, Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc thì có dạy và sáng tác về y khoa. Nếu có thêm Khôi, Việt thì trong ngành chuyên môn đương số rất nổi danh, có thể là Chủ Tịch Hội Đồng Y Khoa hay Chủ Tịch Y Sĩ Đoàn.

  1. Nghề kiến trúc :

Liên quan đến nhà cửa, nghề này cần các sao chỉ điền sản và sao mỹ thuật. – Long trì, Phượng các.

– Thái Âm.

Long, Phượng chỉ nhà cửa va cảnh trí trong nhà, trong vườn, Thái Âm chỉ bất động sản.

– Tấu Thư, Hồng Loan.

Chỉ hoa tay hay năng khiếu mỹ thuật, mỹ nghệ nói chung, thích hợp cho người về kiểu nhà, kiểu tượng, kiểu lăng tẩm, đền chùa, dinh thự, tượng.

4. – Những nghề liên quan đến nghệ thuật :

Nghành nghệ thuật có rất nhiều nghề . Duy khoa Tử Vi chỉ rõ rằng đối với một thiểu số nghề mà thôi. Vì nghệ thuật đòi hỏi sự khéo léo, hoa tay cho nên bất luận nghề nào của ngành nghệ thuật cũng phải có sao Tấu Thư hoặc Hồng Loan, hoặc Thiên Cơ. Bằng không thì đó chỉ là một sự hiểu biết hay một sở thích chớ không phải là một nghề. Tuy nhiên, vì có sở thích đương sự vẫn có thể tài giỏi trong thuật đó và có thể hành nghề đó nếu

muốn. Ngoài ra, sự hiện diện của các sao trên còn chỉ nghề thủ công nói chung.

a) Nghề nhạc :

Nghề này đòi hỏi thính giác bén nhạy, linh mẫn, sự khéo tay và các ngón

tinh diệu. Phải có đủ 3 sao :

– Tấu Thư

Sao này chỉ sự linh mẫn, sự tế nhị , và cả cái ngón cần thiết.

– Hoa lộc :

Có thể hiểu sao này sao nghệ thuật, sự sành điệu, tính cách nhà nghề hay tài tử, biết chơi, biết thưởng thức , biết ứng dụng tỉ mỉ. – Phượng Các :

Sao này chỉ lỗ tai hay thính giác.

Với ba sao này , đương số là nhạc sĩ, sống về âm nhạc, hoặc là chuyên viên âm thanh trong kịch trường hay phim trường. Nếu có thêm sao khoa giáp thì đương số sẽ là giáo sư âm nhạc hay nhà khảo cứu về âm nhạc, âm thanh.

b) Nghề họa

Ngoài sao Tấu Thư hoặc sao Thiên Cơ, đương số phải có sao Hồng Loan chỉ

hoa tay. Nếu có thêm Long Trì , Phượng các cũng được, dù không cần thiết

bằng Tấu, Hồng hay Cơ, Hồng.

c) Nghề nữ công:

Tuy nói là nữ công song nam giới có thể hành nghề được như thường. Ngoài những sao Tấu Thư , Hồng Loan hay Thiên Cơ, còn phải có sao Kiếp Sát hay Thiên Hình vì cả hai chỉ mũi kim. Với hai sao này, nghề nữ công gồm có thêu, may, cắt và vẽ kiểu áo thời trang, chế mốt thời trang (raglan, quần patte…) d) Nghề nấu ăn :

Ngoài sao Hóa Lộc (chỉ geuit), Tấu Thơ, Hồng Loan, nghề gia chánh phải cso thêm sao Long Trì hay Hóa Kỵ và Thiên Trù. Long Trì chỉ khứu giác, Hóa Kỵ chỉ cái lưỡi hay vị giác, còn Thiên Trù chỉ khiếu ăn nhậu.

Với các năng khiếu trên, đương số cũng có thể làm nghề nấu rượu, cất rượu vị vị giác, khứu giác và khiếu ăn nhậu rất cần cho nghề đó. e) Nghề kịch :

Các sao của nghề nhạc, nghề họa đều có thể ứng dụng cho nghề kịch, cụ thể là đóng tuồng, đóng phim, hát bộ. Nếu có thêm sao Đào hoa, Vũ Khúc, Thiên Hỷ, Hỷ Thần càng hay. Đào Hoa chỉ sự có duyên, sức thu hút khán giả(vì đào kép cải lương hay kịch ảnh rất được hâm mộ nên phải có sức quyến rũ, dù là giả tạo). Vũ Khúc chỉ tài nghệ. Hai sao Hỷ chỉ sự giúp vui, làm trò và đặc biệt ứng dụng cho hài kịch, trào phúng.

Với các sao đó, đương số sẽ là kịch sĩ, tài tử, minh tinh, đạo diễn, huấn luyện viên kịch trường. Nếu có thêm sao văn minh thì có thể viết kịch, dạy kịch. Nếu có thêm sao hùng biện nữa thì càng đặc sắc, có khả năng đa diện trong nghành kịch, từ thầy thông cho tới đạo diễn và kịch sĩ (như Moliêre).

Nghề kịch chỉ hiển vinh nếu các sao đắc địa và có thêm Văn Xương, Văn Khúc hay Thái Âm sáng sủa : lúc bấy giờ, vai trò sân khấu sẽ được biểu diễn rất sống, rất thực, gây xúc cảm mãnh liệt, vì ba sao này chỉ sự tiếp thu và tiếp phát tình cảm phong phú. Nếu có thêm Thiên Khôi, Thiên Việt thì xuất chúng, nhờ nghệ tinh mà vinh thân, được người đời tôn thờ sùng mộ, kiểu như Kim Cương, Thanh Nga hoặc Phi Thoàn, Khả Năng, Văn Chung, Thanh Việt. Mặt khác, với các bộ sao trên, đương sự còn có khả năng phê bình nghệ thuật nói chung và kịch nghệ nói riêng.

f) Nghề ca :

Ngòai các sao của nghề kịch như Tấu Thư, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Vũ Khúc, ca sĩ còn phải có sao Phá Toái hay Phượng Các, Phá Toái chỉ cuống họng hay nói chung là giọng nói, âm lượng, khí lực. Phượng Các chỉ lỗ tai hay thính giác. Cả hai rất cần thiết cho ca sĩ nhà nghề hát và ngâm, có thể đạt giọng ténor hay baryton. Có sách vở kể thêm sao Thiên Riêu ca sĩ, thật sự không mấy cần thiết, trừ phi để dùng vào việc khác, vì ca sĩ chính danh không cần phải sử dụng hạ bộ (?).

g) Nghề vũ :

Vũ ở đây là khiêu vũ chớ không phải võ sĩ đô vật. Có lẽ phải có sao của nghề kịch là đủ. Nếu thêm sao Thiên Mã ( chỉ chân tay dùng để biểu diễn bằng bộ tịch ) thì rõ ràng hơn. Không cần có sao Thiên Riêu, ngoại trừ đối với vũ sexy, nhưng phải có sao Hoa Cái ( chỉ làm dáng và sự quyến rũ bằng bộ điệu kiểu cách.)

Tóm lại, các nghệ thuật có nhiều điểm tương đồng qua một số sao như Tấu Thư, Hồng Loan, Thiên Cơ (cả ba chỉ tài bắt chước cần thiết cho nghề nhạc, nghề kịch, nghề vũ, nghề họa và cả nghề nấu ăn. ) và một số sao khác như Đào Hoa, Hồng Loan , Thiên Hỷ,(chỉ sự thu hút , quyến rũ bằng nhan sắc, duyên dáng và sự tiến thân bằng sắc đẹp). Chúng ta nhận thấy những sao hùng biện hay sao khoa giáp cũng nhiều khi cần có để đi liền với các sao chuyên nghiệp ngõ hầu giúp cho nghề thêm tinh thục. Những ai có kinh nghiệm cũng nhận thấy rằng các sao, ca , vũ nhạc, kịch cũng thấy xuất hiện trong nhiều lá số khác như số giáo sư, số chính trị gia chứ không phải chỉ riêng trong lá số các tài tử, ca sĩ, kịch sĩ, võ sư mà thôi. Điều này cũng không có nghĩa là các giáo sư chính trị gia cũng đóng kịch với học trò hoặc với quần chúng mà chỉ có nghĩa là có sự tương đồng về năng khiếu. Có thêm các sao đó khả năng phủ dụ, thu hút thuyết phục họ càng cao thâm rộng rãi giúp họ đóng được vai trò của họ một cách đặc sắc hơn.

Đó là những nghề có tiếp xúc với quần chúng cho nên chỉ ăn khách khi thu hút nổi với đối tượng mà thôi. Ví dụ này cho thấy những nghề đứng trên phương diện năng

khiếu mà xét rất khó phân biệt với nhau cho rõ ràng. Người buôn bán cũng cần tới sự đóng trò, cũng cần tới sự hùng biện, cũng cần đến năng khiếu giáo khoa. Ngược lại, các thầy giáo, bác sĩ hay chính trị gia không phải không cần đến xảo thuật của con buôn. Đó cũng là lý do khiến cho người xem số chỉ nên nhấn mạnh đến năng khiếu hơn là đến nghề nghiệp.

(Tác giả Cam Vũ dẫn theo sách của cụ Nguyễn Phát Lộc)