Liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư thực quản

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư thực quản

Ở bệnh nhân ung thư thực quản, rối loạn dinh dưỡng được định nghĩa là trạng thái thiếu hoặc kém hấp thu dinh dưỡng dẫn đến thay đổi các chất trong cơ thể (giảm khối lượng chất béo), giảm khối lượng tế bào trong cơ thể, từ đó suy giảm chức năng thể chất và tinh thần. Các nghiên cứu đã cho ra kết quả hơn 70% bệnh nhân giảm trọng lượng cơ thể hơn 10% ở thời điểm được chẩn đoán bệnh, thường diễn ra từ những tháng đầu tiên và sau đó tiến triển nhanh. Các nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến:

Khối u thực quản: Các khối u cản trở việc tiêu thụ và hấp thu chất dinh dưỡng. Biểu hiện bằng tình trạng nuốt nghẹn. Ban đầu có thể là khó nuốt thức ăn rắn, sau tiến triển đến thức ăn mềm và cuối cùng là chất lỏng và cả nước bọt. Sự tiến triển tăng dần khi khối u ngày càng phát triển và chiếm hết lòng thực quản.

Hình 1: Hình ảnh u thực quản

Hội chứng suy mòn (cachexia): là một hội chứng chuyển hoá phức tạp liên quan đến bệnh tật và đặc trưng bởi mất khối lượng cơ và có hoặc không giảm mỡ, tốc độ trao đổi chất tăng lên trong khi khối lượng ăn vào giảm dẫn đến tình trạng suy giảm sức khoẻ thể chất và tinh thần. Đây là tình trạng tiến triển sau nuốt nghẹn và chán ăn.

Hình 2: Hình ảnh bệnh nhân có hội chứng suy mòn

Tác động của các phương pháp điều trị đến tình trạng dinh dưỡng

Bệnh nhân ung thư thực quản thường được điều trị theo những phác đồ khác nhau, thông thường bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hoá trị. Sự kết hợp của các phương pháp điều trị ảnh hưởng rất lớn đến rối loạn dinh dưỡng và suy mòn. Cụ thể:

Xạ trị không chỉ gây ra tình trạng viêm niêm mạc mà còn dẫn đến nuốt đau và hẹp thực quản. Nuốt ngày càng đau đớn và khó khăn khi đó việc ăn đường miệng giảm đáng kể.

Các phẫu thuật thủ thuật cắt thực quản, tạo hình thực quản làm giảm thể tích dạ dày dẫn đến bệnh nhân ăn ít nhưng luôn có cảm giác no, trào ngược dạ dày cũng thường xuyên xảy ra.

Hoá chất cũng có thể gây ra viêm thực quản, buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Khi kết hợp hoá xạ trị thì các triệu chứng trên nặng nề hơn, thậm chí có những trường hợp hoàn toàn không thể ăn uống qua đường miệng.

Các thủ thuật đặt sonde nuôi dưỡng vào dạ dày hoặc hỗng tràng cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp thu và dung nạp các chất dinh dưỡng.

Vậy liệu pháp dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư thực quản là gì?

Liệu pháp dinh dưỡng là một phần trong chiến lược điều trị ung thư thực quản. Quá trình này được bắt đầu kể từ khi bệnh nhân được chẩn đoán và kéo dài trong suốt thời gian điều trị và theo dõi bệnh. Việc xây dựng liệu pháp dinh dưỡng phụ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng và trạng thái chuyển hoá của từng bệnh nhân cụ thể. Tuy nhiên mục tiêu chính là bệnh nhân giữ được khối lượng cơ, đảm bảo hệ miễn dịch khoẻ mạnh và chức năng các cơ quan trong trạng thái tốt. Liệu pháp dinh dưỡng bao gồm nhiều bước.

Bước 1: Sàng lọc đánh giá nguy cơ dinh dưỡng của bệnh nhân

Việc đánh giá nguy cơ dinh dưỡng của bệnh nhân là bước đầu tiên. Tại các trung tâm điều trị sẽ có những tiêu chuẩn khác nhau. Hiệp hội dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hoá Châu Âu khuyến nghị sử dụng NRS 2002 (Nutrition Risk Screening: Sàng lọc rủi ro dinh dưỡng) là phương pháp sàng lọc thích hợp nhất trong bệnh viện. Việc thực hiện diễn ra hàng tuần hoặc mỗi 1-3 tháng bằng các tiêu chí:

Tình trạng sụt cân: Hỏi cân nặng trước đó và thời gian cân gần đây nhất và tính % sụt cân.

Ghi nhận tình trạng ăn uống: Hoàn toàn không ăn gì; ăn bằng 25%, 50%, 75% so với thường ngày; Chỉ ăn cháo, súp, nước với năng lượng thấp.

Đo cân nặng để xác định chỉ số khối cơ thể (BMI).

Bệnh nặng kèm theo: bệnh mạn tính hay bệnh nặng, hay bệnh cần săn sóc đặc biệt.

Thang điểm SGA (Subjective Globocan Assessment of nutritional status): là phương pháp đánh giá dựa hoàn toàn vào nhận định chủ quan của nhân viên y tế.

Dinh dưỡng tốt (SGA A): Giữ nguyên cân năng, tăng cân hoặc mất cân < 5% trong vòng 6 tháng, không kèm phù.

Suy dinh dưỡng vừa hoặc có nguy cơ suy dinh dưỡng (SGA B): Mất trên 5% cân nặng trong vòng 2 tuần, giảm khẩu phần ăn, mất mỡ dưới da mức độ nhẹ và không teo cơ.

Suy dinh dưỡng nặng (SGA C): Thăm khám lâm sàng có dấu hiệu teo cơ, mất mỡ dưới da mức độ năng, phụ, mất cân > 10%.

Bước 2: Kiểm tra dinh dưỡng

Sau sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng sẽ phải tiến hành kiểm tra dinh dưỡng, quy trình song song với quy trình chẩn đoán. Kết quả của kiểm tra dinh dưỡng bao gồm các thông tin về chuyển hoá, dinh dưỡng của bệnh nhân, chức năng của các cơ quan và nhu cầu dinh dưỡng cụ thể.

Bước 3: Đánh giá cân bằng năng lượng và dinh dưỡng

Cân bằng năng lượng và dinh dưỡng cho chúng ta biết mức độ, nhu cầu của bệnh nhân về năng lượng và các chất dinh dưỡng đã được cung cấp. Việc thu thập thông tin được sử dụng bằng hình thức phỏng vấn khi bắt đầu điều trị.

Bước 4: Thăm khám lâm sàng

Với thăm khám lâm sàng các bác sỹ có thể tìm ra các dấu hiệu và triệu chứng của sự thiếu hụt dinh dưỡng hoặc tình trạng nhiễm độc của bệnh nhân.

Đánh giá các tiêu chí như toàn trạng, tình trạng da, niêm mạc, tóc, mắt, đường tiêu hoá.

Đánh giá số cân giảm trong những tháng gần đây, tính tỷ lệ %, BMI, khối lượng cơ, nước trong cơ thể, diện tích da.

Chỉ số toàn trạng: Sử dụng Karnofsky Performance Status (KPS).

Hình 3: Sàng lọc dinh dưỡng và thăm khám lâm sàng

Bước 5: Các xét nghiệm máu

Công thức máu

Protein/ Albumin huyết thanh, đường máu, điện giải, magie, photphat, canxi, chức năng gan, ure, creatinine, cholesterol, triglyceride.

Bước 6: Tính toán nhu cầu năng lượng

Nhu cầu năng lượng của mỗi bệnh nhân là khác nhau phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, toàn trạng và mức độ stress. Các nghiên cứu đã chứng minh có sự gia tăng 31% tỷ lệ trao đổi chất khi nghỉ ngơi sau khi cắt và tạo hình thực quản so với trước phẫu thuật. Có nhiều phương pháp để tính nhu cầu năng lượng tuy nhiên đó chỉ là các ước tính và không dựa trên các phép đo thực tế về calo tiêu thụ nên việc cần thiết là phải theo dõi đáp ứng của bệnh nhân với các chế độ dinh dưỡng và điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp.

Tính toán nhu cầu protein thường dựa trên trọng lượng cơ thể lý tưởng hoặc cân nặng mong muốn, ước tính theo mức độ cạn kiệt protein và các yếu tố stress chuyển hoá. Với những bệnh nhân được nuôi dưỡng tốt, bị căng thẳng nhẹ nhu cầu protein là 0,8-1g/kg. Với những trường hợp suy kiệt nhẹ đến trung bình với căng thẳng trung bình thì nhu cầu là 1,5-2g/kg thể trọng.

Bước 7: Lập kế hoạch dinh dưỡng

Sau khi hoàn thiện các đánh giá cần lên một kế hoạch cụ thể chi tiết về dinh dưỡng của từng bệnh nhân bao gồm: mục tiêu, các biện pháp bổ sung, loại thực phẩm, các hoạt động liên quan tư vấn và đào tạo dinh dưỡng. Kế hoạch này không phải là cố định và thường xuyên thay đổi theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân ở từng thời điểm.

Hình 4: Lập kế hoạch dinh dưỡng

Xạ trị: Viêm thực quản, trào ngược và hẹp thực quản là những tác dụng không mong muốn chủ yếu của xạ trị ở bệnh nhân ung thư thực quản. Sự can thiệp về chế độ ăn nên được kịp thời với các dấu hiệu đầu tiên của triệu chứng và ngăn chặn sự suy giảm dinh dưỡng tiển triển. Kiêng, tránh các thức ăn có chất kích thích và khó nhai nuốt. Tăng cường chế độ ăn giàu protein và calo bằng đường miệng với các thức ăn mềm, dạng lỏng hoặc qua sonde dạ dày và qua đường truyền tĩnh mạch.

Hình 5: Phân loại thức ăn nên và không nên sử dụng cho bệnh nhân ung thư thực quan

Hoá trị: Buồn nôn, nôn, viêm miệng và tiêu chảy là những tác dụng phụ có thể xảy ra tuỳ thuộc vào loại hoá chất và các phác đồ cụ thể trên từng bệnh nhân. Chiến lược dinh dưỡng thường đi kèm với sử dụng thuốc giảm tác dụng phụ để cải thiện kết quả

Phẫu thuật: điều trị phẫu thuật cắt và tạo hình thực quản ảnh hưởng đáng kể đến khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của bệnh nhân. Các thủ thuật đưa ống sonde nuôi dưỡng vào dạ dày hoặc hỗng tràng được chứng minh là vừa hiệu quả vừa tiết kiệm chi phí trong giai đoạn hậu phẫu và hỗ trợ lâu dài ở bệnh nhân ung thư thực quản. Việc cho ăn có thể bắt đầu trong vòng 24h sau khi phẫu thuật và được dung nạp tốt nhất khi sử dụng sữa công thức. Cụ thể thường bắt đầu bằng các thể tích nhỏ 20-30cc/1h, và sau đó tăng thêm 20cc/h sau mỗi 12h để đạt được khối lượng mong muốn. Các bữa ăn nhỏ cũng làm giảm triệu chứng buồn nôn, nôn, chướng bụng và tiêu chảy.

Việc đưa ra chiến lược dinh dưỡng cho bệnh nhân cụ thể là công việc của bác sỹ điều trị và chuyên gia dinh dưỡng. Bệnh nhân cần đưa ra những thông tin chi tiết, cụ thể về các vấn đề của chính bản thân mình như: triệu chứng nuốt nghẹn, nuốt đau, sút cân, buồn nôn, nôn …và phối hợp chặt chẽ với đội ngũ y tế để cải thiện dinh dưỡng của chính người bệnh. Việc cải thiện tốt dinh dưỡng của người bệnh góp phần quan trọng vào thành công của chiến lược điều trị bệnh.

Một số hướng dẫn nhỏ bệnh nhân ung thư thực quan cần ghi nhớ:

Thay đổi khẩu phần ăn bằng các thực phẩm mềm dễ nuốt kết hợp với cách chế biến như xay, nghiền, ép.

Ăn từng miếng nhỏ và nuốt hoàn toàn trước khi ăn tiếp.

Uống nghiều nước mỗi ngày, có thể dùng kèm thêm nước trái cây, súp, sữa, kem và có thể dùng ống hút.

Chọn thực phẩm giàu protein và nhiều calo, ngồi thẳng lưng khi ăn.

Ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì chỉ ăn 3 bữa như trước.

Vệ sinh răng miệng thường xuyên.

Cuối cùng các bác bệnh nhân hãy nhớ rằng: luôn có đội ngũ y tế đồng hành với mình trong suốt quá trình chiến đấu với bệnh tật, vì vậy hãy trao đổi và lắng nghe hướng dẫn, lời khuyên từ chúng tôi.

Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 là cơ sở điều trị ung thư thực quản có uy tín và chất lượng cao đã triển khai điều trị đa mô thức ung thư thực quản đạt kết quả tối ưu cho người bệnh. Chúng tôi đã phối hợp với Viện Phẫu thuật tiêu hóa tiến hành hóa xạ trị tiền phẫu và phẫu thuật nội soi cũng như hóa xạ trị triệt căn cho nhiều bệnh nhân ung thư thực quản với kết quả rất khả quan.

Bệnh nhân ung thư thực quản có nhu cầu tư vấn về chẩn đoán, điều trị và chế độ dinh dưỡng xin liên hệ theo địa chỉ:

Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Tầng hầm B2 Tòa nhà Trung tâm, Viện Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Số 1 Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội.Điện thoại: 024.62784163.

Website: http://benhvien108.vn/gioi-thieu-khoa-xa-tri-xa-phau.htm

Fan page: https://www.facebook.com/xatri108.

Nguồn:

Riccardi, Diane; Allen, Kathryn. Nutritionak Mannagement of Patients with Esophageal and Esophagastric Juntion Cancer.

Taja Jordan. Nutritional Therapy for Patients with Esophageal Cancer.

The Tracey Birnhak Nutritional Counseling Program at the Hospital of the University of Pennsylvania. Nutrition for Patients with Esophageal Cancer.

Người viết: Thạc sỹ, Bác sỹ Nguyễn Thị Hà

Khoa Xạ trị – Xạ phẫu, Viện Ung thư, Bệnh viện TWQĐ 108

Nguồn: https://nhaxinhplaza.vn
Danh mục: Hỏi đáp

Recommended For You